Trung tâm Di sản các nhà khoa học việt nam

Heritage Center for scientists and scholars of Vietnam

Những bài học quý từ Thầy

10:09 - Thứ Sáu, 11/01/2013

tin từ MEDDOM Tốt nghiệp trường Đại học Y Hà Nội năm 1960, Ngô Ngọc Liễn được giữ lại trường, công tác tại Bộ môn Tai Mũi Họng mà Chủ nhiệm Bộ môn lúc bấy giờ là GS Trần Hữu Tước. Rồi lại may mắn được làm việc cùng Thầy cho đến khi Thầy qua đời (1983), nên ông đã có được nhiều bài học quý từ Giáo sư Tước, không chỉ trong công việc chuyên môn mà từ cả những điều nhỏ nhất trong cuộc sống.

Có thể tựu chung lại ở 3 bài học quý mà GS.TS Ngô Ngọc Liễn học được từ thầy Trần Hữu Tước, như ông đã chia sẻ với chúng tôi trong một cuộc phỏng vấn gần đây, đó là: Văn hóa là gốc; Có Y đức; Làm gương cho học trò.

Văn hóa là gốc

Tôi rất ấn tượng với một câu nói của Thầy Tước, có thể quyết định đối với cuộc đời tôi: Bác sĩ là người trí thức có ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội. Sau này tôi có nhiều dịp đi Pháp, Đức..., thấy ở những nước này có nền y học phát triển từ lâu, thì thấy đúng là bác sĩ xứng đáng ở vị trí như thế. Điều này cũng dễ hiểu vì Y học là một ngành khoa học mang tính nhân văn, liên quan đến con người, chữa lành “nỗi đau”, mang lại sức khỏe, niềm vui, hạnh phúc cho con người.

Tôi từng được nghe thầy Tước giảng giải: Yếu tố lịch sử trong văn hóa rất quan trọng, góp phần phân biệt nền văn hóa của nước này với nước khác. Tôi nhớ kỷ niệm: Năm 1963, thầy Tước khi đó là Đại biểu Quốc hội (khóa II) của tỉnh Thanh Hóa nên hàng năm vào tiếp xúc cử tri ở đây, tôi may mắn được đi cùng Thầy. Thầy hỏi tôi: Liễn muốn đi chơi đâu? Tôi nói ngay là muốn đi Sầm Sơn. Tôi mê đi Sầm Sơn đến mức từ thời còn sinh viên, hè năm 1955, 7 sinh viên chúng tôi rủ nhau đi xe đạp từ Hà Nội ra Sầm Sơn chỉ để bơi mấy ngày. Thầy Tước khuyên: Các cậu trẻ, nên đến Thành nhà Hồ trước bởi đó là một di tích lịch sử văn hóa của Thanh Hóa[1], rồi sẽ đi Sầm Sơn sau. Thế mới biết, Thầy xa quê, sang học tập tại Pháp nhưng vẫn nhớ về những di tích văn hóa của dân tộc gắn liền với một giai đoạn lịch sử. Học tập từ Thầy, sau này khi tôi thành lập Đoàn Thầy thuốc nhân đạo, đi khám chữa bệnh miễn phí ở các tỉnh vùng sâu vùng xa, tôi thường tìm hiểu trước ở các vùng đó có những di tích nào nổi bật. Sau khi khám bệnh xong, sắp xếp thời gian để đoàn có thể đi tham quan. Như vậy, các cán bộ y tế không chỉ phục vụ chăm sóc sức khỏe đồng bào mà còn biết thêm các di tích của các vùng miền trên đất nước mà không phải lúc nào cũng có dịp đến.

Trong việc viết sách chuyên ngành, Thầy cũng rất coi trọng yếu tố lịch sử. Tôi còn giữ được quyển sách do thầy Tước viết về Bệnh học Tai Mũi Họng đầu tiên năm 1959. Gần một nửa quyển Thầy viết về lịch sử bệnh Tai Mũi Họng, từ châu Âu đến Trung Quốc và cho đến lịch sử bệnh Tai Mũi Họng của Việt Nam. Tôi có ý kiến với Thầy, tỉ lệ nội dung lịch sử môn học như thế là nhiều, phần bệnh học rất cần cho sinh viên thì lại ít quá. Thầy Tước nói: Nếu không hiểu được lịch sử thì không biết được hiện tại.

Thầy Tước vẫn dạy chúng tôi: Văn hóa là gốc của con người. Mà văn hoá không phải là những gì to tát xa vời, nó biểu hiện ở những cử chỉ, ứng xử nhỏ nhất. Chuyện là: Năm 1966, Bộ môn tuyển hai cô kỹ thuật viên phục vụ cho công tác nghiên cứu. Một cô, vì một vài lý do, Bộ môn không dám nhận, còn một cô có bố làm ở Nhà máy Trung quy mô Hà Nội Bộ môn đanglàm thủ tục nhận vào làm việc. Tôi vẫn còn nhớ như in: Hôm đó Thầy Tước đi vào phòng làm việc, một lúc thì thầy gọi tôi vào và nói: Chắc không nhận cô ấy vào Bộ môn được đâu. Tôi hỏi tại sao thì thầy bảo: Liễn không để ý, chứ lúc tôi vào, cô ấy đứng dậy chào rồi ngồi co hai chân lên ghế. Mấy hôm sau, thầy lên tận trường gặp ông Phan Huy Chữ[2] nói về việc không nhận cô ấy, chỉ do một cử chỉ vậy thôi, nhưng có lẽ thầy cho đó là tác phong không thể chấp nhận. Như vậy là cuối cùng cả 2 cô đều không được Bộ môn tuyển vào làm việc.

Hành nghề phải có Y đức

Thầy Tước có lần lý giải: Con người hơn con vật ở chỗ là cột sống cổ luôn luôn hướng chếch 15 độ lên trời cho nên con người mới tiến lên được. Đó chỉ là một cách nói khôi hài, để giải thích khi có những ý kiến cho rằng Thầy Tước có dáng vẻ kiêu ngạo... Nhưng nếu chứng kiến thái độ của Thầy với bệnh nhân, chắc hẳn sẽ phải có những nhận định khác về Thầy.

Với bệnh nhân, Thầy luôn tôn trọng và giữ đúng nguyên tắc chuyên môn. Tôi nhớ, có lần đi xem kịch ở Nhà hát lớn, mặc dù rất yêu nghệ thuật nhưng đến nửa chừng Thầy bảo phải về Viện Tai Mũi Họng ngay. Sau chúng tôi mới biết Thầy về để thăm khám lại bệnh nhân do Thầy mổ mà buổi chiều do tham gia tiếp đón Thủ tuớng Phạm Văn Đồng nên chưa thăm được, tuy khi đó đã có bác sĩ trực. Một chuyện khác: Nhân dịp 20-11, chúng tôi mời Thầy đi ăn liên hoan nhưng thầy lại đến hơi muộn. Tất cả chúng tôi đều biết thầy làm việc rất nghiêm túc, đúng giờ, việc thầy đến muộn là rất hiếm. Vừa vào đến nơi, thầy nói luôn vì vừa thay băng cho một bệnh nhân hôm qua mổ nên đến muộn. Thầy Tước quan niệm: Người trực tiếp mổ, bao giờ ngày đầu tiên sau ca mổ cũng phải đến thăm khám cho bệnh nhân và cũng là người thay băng, cắt chỉ đầu tiên. Có như vậy mới biết được đường mổ khâu có đạt kỹ- mỹ thuật hay không?, việc chọn chất lượng chỉ khâu đã phù hợp chưa? Không những vậy, việc ghi bệnh án cũng phải chi tiết, tỉ mỉ. Ví như một bệnh nhân bị thủng màng tai thì trong bệnh án phải mô tả lỗ thủng đó ở chỗ nào, tai trái hay phải, trong hay ngoài, to hay nhỏ, sát với vỏ xương hay không?...Thường khi họp Giao ban, Thầy yêu cầu chúng tôi báo cáo chi tiết tình hình tiến triển của bệnh nhân sau khi mổ.

 

Trong thực hành Y đức, thầy coi trọng việc tôn trọng bệnh nhân và luôn dạy chúng tôi phải làm như vậy. Thầy nói: Mỗi bệnh nhân là một người thầy của mình. Mỗi buổi hội chẩn bệnh là một giờ học hữu ích nhất. Bởi vì mỗi bệnh nhân có những bệnh và biểu hiện bệnh khác nhau, ta sẽ học thêm được điều gì đó từ việc thăm khám họ. Vào thời kỳ bao cấp, chưa có kinh tế thị trường nhưng chính Thầy Tước đã coi bệnh nhân là client (khách hàng), họ phải được tôn trọng với đúng nghĩa của từ này, chứ không phải như là người mua hàng theo tem phiếu lúc bấy giờ. Khi ấy tôi chưa hiểu hết lời chỉ dạy của Thầy, và có người còn cho rằng quan điểm như vậy là ảnh hưởng tư tưởng tư bản chủ nghĩa, nhưng dần dần chúng tôi mới hiểu hết ý nghĩa câu nói của Thầy.

 

Tôi cũng quan niệm rằng đạo đức không thể thiếu trong nghề Y, mà phải hiểu Y đức thật đúng. Nội hàm của Y đức phải được thể hiện trong suốt quá trình giao tiếp và phục vụ bệnh nhân. Ví như: sau khi mổ cho bệnh nhân thì chính bác sĩ điều trị phải kiểm tra lại công việc mình đã làm cho bệnh nhân, cho dù sau mổ đã có bác sĩ trực. Và khi đứng trước bệnh nhân thì người thầy thuốc không được quan tâm về quan hệ nhân thân người đó sang hay hèn, giàu hay nghèo, mà quan trọng là tình trạng bệnh thế nào, mức độ cấp tính ra sao? ...

 

Thầy phải làm gương cho trò

Tôi được học Thầy Trần Hữu Tước ngay từ thời còn sinh viên khi chúng tôi học môn Tai Mũi Họng. May mắn khi mới về công tác tại Bộ môn, tôi thường xuyên được trợ giảng cho Thầy. Máy móc, phương tiện còn thiếu thốn, mọi hình vẽ minh họa cho bài giảng đều do một bộ phận của nhà trường tự tay vẽ. Ở Bộ môn có một tủ tranh treo sẵn, trước giờ thầy giảng, tôi thường được đi lựa tranh chuẩn bị cho bài giảng. Trong mỗi bài giảng của thầy, đều có hình vẽ minh họa. Cũng có người cho rằng Thầy Tước bày vẽ. Nhưng trên thực tế, phương pháp giảng như vậy sẽ làm cho chất lượng bài giảng tốt hơn và thu hút được sinh viên hơn.

Với vốn kiến thức sâu rộng, phong cách giảng của Thầy rất hàn lâm. Thầy giảng chậm rãi, giọng đều đều nhưng vẫn có điểm nhấn ở những kiến thức quan trọng. Trong những kỳ hỏi thi, nhiều khi tôi cũng được ngồi phụ hỏi thi cùng Thầy. Tôi nhớ mãi chuyện: Có một cậu sinh viên có lẽ ngủ gật hoặc không chú ý nghe điểm thầy nhấn mạnh nên trong quá trình thi vấn đáp, đến phần xử lý ung thư vòm họng, Thầy hỏi có mổ được không? Sinh viên đó lại trả lời: mổ được, dù Thầy đã gợi ý suy nghĩ lại thêm nhưng vẫn cứ giữ nguyên câu trả lời. Thế là Thầy cho điểm 3-điểm chết (từ “chết” có nghĩa là không cứu vãn được cho thí sinh, bị đánh trượt luôn, bởi điều trị theo hướng câu trả lời đó có thể gây tử vong cho bệnh nhân).

Muốn làm gương để cho học trò noi theo thì thầy phải giỏi cả về có kiến thức lẫn tay nghề, phải có tư cách đạo đức tốt, mẫu mực, kỹ năng hành nghề chuyên sâu; học trò trông thầy hành nghề để học theo.

Bên cạnh công tác giảng dạy, Thầy Tước luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu khoa học. Năm 1963, thầy giao cho tôi làm nghiên cứu Đề tài về "Viêm tai xương chũm thể ẩn ở hài nhi" mà trước đó thầy đã nghiên cứu thành công ở Pháp nhưng trên các tử thi và thầy muốn tôi nghiên cứu hướng đó ở những trẻ em đang trong tình trạng bị tiêu chảy nặng, chủ yếu rơi vào những trường hợp mắc bệnh còi xương. Trong Y học, có những điều đặc biệt, tiêu chảy có khi là triệu chứng của tổn thương ở tai do có mủ, chỉ bằng biện pháp trích màng tai hoặc mổ trích tối thiểu 5-10 phút là xong. Thầy hướng dẫn tôi sang Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai để nghiên cứu. Tôi phải thực hiện các câu hỏi với các bà mẹ: có đẻ non hay không, con có được nuôi bằng sữa mẹ hay không? Trước khi bị tiêu chảy thì trẻ đó khỏe mạnh hay gầy yếu? Tôi phải nhìn đứa trẻ có bị suy nhược hay không? Khi khám phải mô tả rất chi tiết vì chỉ phát hiện ra một ít chất nhầy trong tai cũng rất quan trọng để phát hiện tổn thương xương chũm và có cách xử trí thích hợp. Thầy đã truyền dạy phương pháp "vọng, văn, vấn, thiết" áp dụng trong quá trình nghiên cứu, điều trị cho bệnh nhân có ý nghĩa rất quan trọng. Đề tài nêu trên là công trình nghiên cứu đầu tiên của tôi, đạt được kết quả tốt và được báo cáo tại Hội nghị khoa học của toàn trường Y lúc bấy giờ. Là một sinh viên vừa ra trường được 3 năm, tôi thấy rất tự hào về thành quả này. Tôi khoe với Thầy thì thầy nói vui với tôi: Tôi tốt nghiệp bác sĩ năm 1937, trước khi cậu ra đời 5 ngày. Tôi ngầm hiểu: Thầy từng học tập, nghiên cứu và làm Trợ lý Khoa Tai mũi họng tại Bệnh viện Nhi Necker, CH Pháp; từng có nhiều kinh nghiệm và thành công trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị tai mũi họng nói riêng và cống hiến sức lực, trí tuệ và tài năng cho đất nước. Ấy vậy mà Thầy bao giờ cũng rất khiêm tốn, không khoe khoang. Tôi coi đó như lời răn dạy của thầy với tôi, rằng không nên cậy vào những vốn kinh nghiệm đã có, vội bằng lòng với thành quả bước đầu, phải biết nỗ lực, rèn luyện và cập nhật những tri thức mới.

Không chỉ trong giảng dạy mà cả trong khi hành nghề bác sĩ, Thầy cũng là tấm gương cho tôi học tập từ việc rèn luyện những động tác nhỏ nhất. Thầy thường bảo, bác sĩ phải có bàn tay khéo léo, nhất là bác sĩ phẫu thuật. Thầy vẫn thường tập luyện đôi bàn tay, như mỗi lần đi bơi, Thầy hay tập những động tác "bóp" nước, có khi nước vọt đến hơn 2 thước. GS Đặng Hiếu Trưng có lần kể về thầy Tước: Ngày còn ở Pháp, khi có thời gian rảnh rỗi, thầy hay ghé xem những người thợ kim hoàn làm việc, đứng hàng giờ nhìn đôi bàn tay điêu luyện của họ tạo nên những đồ trang sức tuyệt đẹp. Thầy bảo, nếu người thợ kim hoàn có lỡ tay thì có thể sửa sai được chứ với người thầy thuốc mổ xẻ, một động tác thô bạo trong mổ xẻ có thể gây tai nạn chết người cho bệnh nhân. Mà những mất mát đối với con người thì không có gì bù đắp được.

Thời gian thấm thoắt trôi, GS Trần Hữu Tước vĩnh biệt chúng ta đã được 30 năm. Nhưng suốt 30 năm đó, những đóng góp to lớn của Thầy không phai nhạt trong tâm trí tôi. Mọi sự chỉ bảo, dìu dắt của Thầy, đối với tôi đều là những nền tảng kiến thức quý báu để khởi nghiệp và rồi gắn bó với ngành Tai Mũi Họng nói riêng và ngành Y nói chung.

Hoàng Thị Liêm

 


[1] Thành nhà Hồ được công nhân Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1962 và được UNESCO công nhân là Di sản Văn hóa thế giới, năm 2011

[2] Bí thư Đảng ủy trường Đại học Y Hà Nội (1957-1971)